top of page

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản

Đề bài Luật Dân sự Việt Nam 1:

Pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản. Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản - HLUER DOCS

MỞ ĐẦU

Thừa kế là quá trình chuyển dịch tài sản thuộc sở hữu của một cá nhân cho những người khác khi cá nhân đó chết. Đây là một hiện tượng xã hội tất yếu khách quan, tồn tại song song với vấn đề sở hữu và phái sinh từ quyền sở hữu của một chủ thể. Việc chuyển dịch tài sản này có thể được thực hiện bằng di chúc hoặc theo trình tự pháp luật quy định. Trong đó thời hiệu yêu cầu phân chia di sản là một vấn đề khá phức tạp.

NỘI DUNG

1. Pháp luật về thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản

1.1. Một số khái niệm

Thời hiệu

Theo khoản 1 điều 149 BLDS 2015: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”. Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà công dân, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích của mình. Quá thời hạn đó, họ không có quyền khởi kiện nữa.

Thừa kế và di sản thừa kế

Thừa kế là quá trình chuyển dịch tài sản thuộc sở hữu của một cá nhân cho những người khác khi cá nhân đó chết, việc chuyển dịch tài sản này có thể bằng di chúc hoặc theo trình tự mà pháp luật dân sự quy định. Di sản thừa kế chính là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của một người mà họ để lại sau khi chết.

Thời điểm mở thừa kế

Là thời điểm người để lại thừa kế chết . Thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa trong việc xác định người thừa kế, thời điểm có hiệu lực của di chúc, thời điểm bắt đầu của thời hiệu khởi kiện về thừa kế.

Người thừa kế

Là người thừa hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế phải thỏa mãn các quy định tại Điều 613 BLDS 2015 1.

1.2. Khái quát về thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế

Về nguyên tắc, tranh chấp về thừa kế thuộc thẩm quyền của Tòa án, nên cần phải xem xét đến vấn đề thời hiện yêu cầu Tòa án can thiệp. Hiện nay, có ba loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế. Loại thứ nhất là thời hiệu liên quan đến quyền yêu cầu chia di sản. Loại thứ hai là thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Loại thứ ba là thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Bài viết này tập trung nghiên cứu vào loại thời hiệu thứ nhất: thời hiệu yêu cầu phân chia di sản. Đây là loại thời hiệu duy nhất mà BLDS 2015 có sự thay đổi so với BLDS 2005.

1.3. Quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản theo BLDS 2015

Căn cứ pháp lý

Khoản 1 Điều 623, BLDS năm 2015:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

Bình luận

Nếu như BLDS 2005 (và trước đó) quy định “thời hiệu khởi kiện về thừa kế” với nội dung chủ yếu là quy định thời hạn để người thừa kế khởi kiện ra Tòa án thì BLDS 2015 đã sửa đổi theo hướng khái quát hơn. Cụ thể, Điều 623 BLDS 2015 có tiêu đề là “thời hiệu thừa kế” mà không phải “thời hiệu khởi kiện” như trước vì nội dung của điều luật không chỉ đề cập đến thời hiệu yêu cầu chia di sản (khởi kiện hoặc không) mà còn có quy định về thời hiệu hưởng quyền đối với di sản (để giải quyết hệ quả khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản). Nếu theo Điều 645 BLDS 2005, quy định gộp thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Với quy định đó, dù tư cách người thừa kế được thừa nhận, nhưng nếu không tiến hành chia di sản trong vòng 10 năm, thì người thừa kế sẽ mất quyền yêu cầu chia di sản, đồng nghĩa với việc người đó mất luôn phần di sản được hưởng trong trường hợp phần di sản đó được thể hiện thành một phần hiện vật và hiện vật ấy đang được người đồng thừa kế khác nắm giữ, quản lý.

Quy định tại Điều 623 BLDS 2015 cũng phù hợp với quy định về xác lập sở hữu theo thời hiệu tại Điều 236 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Việc áp đặt thời hiệu buộc những người thừa kế phải chia di sản trong thời hạn này nếu muốn được sự bảo trợ của Tòa án khi các bên thỏa thuận không thành.

Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế: 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy, trong thời hạn trên mà di sản thừa kế chưa chia, thì người thừa kế hợp pháp của người để lại di sản có quyền yêu cầu chia di sản. Nội dung này theo quy định của BLDS 2005 tại Điều 645 thì thời hiệu là 10 năm áp dụng chung cho cả động sản và bất động sản.

Vấn đề là số di sản hết thời hiệu mà không có yêu cầu chia thì giải quyết như thế nào? Trong khi các BLDS trước đây đều chỉ quy định về thời hạn khởi kiện mà không có quy định nào giải quyết hệ quả pháp lý phát sinh khi hết thời hiệu, thì khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 là một điểm mới tiến bộ dự liệu 3 hệ quả sau:

Thứ nhất, nếu hết thời hạn trên, không có yêu cầu chia di sản, thì di sản thừa kế thuộc về người thừa kế đang quản lý.

Thứ hai, trường hợp không có người quản lý di sản thừa kế, thì di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, các luật khác có liên quan quy định khác (Điều 236 BLDS 2015).

Thứ ba, di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 và theo quy tại Điều 236 BLDS năm 2015.

2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản

2.1. Cách tính thời hiệu

Các thời hiệu trên được xác định từ thời điểm bắt đầu là “thời điểm mở thừa kế” cho đến thời điểm kết thúc là ngày tròn của thời hiệu. Tuy nhiên trong thực tế khi xác định thời hiệu này cần phải dựa vào nguyên tắc chung của việc tính thời hiệu (đặc biệt là Điều 156 về những trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu và Điều 157 về bắt đầu lại thời hiệu) và áp dụng cụ thể đối với từng trường hợp khác nhau. Chẳng hạn nếu vì lý do khách quan (như đương sự bị mất năng lực hành vi, do ốm đau, tai nạn...), do chưa có người đại diện, hay trường hợp di sản là nhà ở, có người định cư ở nước ngoài mà người thừa kế không thể thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn của thời hiệu thì khi xác định thời hiệu không được tính thời gian có trở ngại khách quan đó . Hay trường hợp hết thời hiệu khởi kiện, nhưng người thừa kế quản lý di sản chấp nhận chia di sản với người khác thì thời điểm ngày tiếp theo sau sự kiện đó sẽ bắt đầu tính lại thời hiệu7. Để xác định thời điểm mở thừa kế phải thông qua căn cứ pháp lý là giấy chứng tử/ hồ sơ khám bệnh đối với trường hợp chết sinh học, còn với trường hợp cái chết pháp lý (tòa án tuyên bố chết) thì căn cứ để xác định thời điểm mở thừa kế là thời điểm quyết định tuyên bố chết có hiệu lực pháp luật.

2.2. Hiệu lực hồi tố quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản và thời điểm bắt đầu thời hiệu

Quy định mới nêu trên (30 năm đối với bất động sản) đương nhiên được áp dụng đối với di sản mà thời điểm mở thừa kế diễn ra sau khi BLDS 2015 có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/1/2017. Vấn đề đặt ra là thời hiệu này (dài hơn so với trước đây) có được áp dụng cho cả di sản mà thời điểm mở thừa kế diễn ra trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực hay không? Trước khi thông qua BLDS năm 2015, các nhà lập pháp đã có một dự thảo nghị quyết quy định một số điểm thi hành BLDS trong đó có quy định về áp dụng quy định chuyển tiếp về thời hiệu tại khoản 4 Điều 2 với nội dung nằm độc lập so với các quy định về GDDS (ở khoản 2). Tuy nhiên sau đó nghị quyết riêng này không được ban hành (như BLDS 2005 và 1995) mà được xây dựng một điều luật chuyển tiếp là Điều 688, nhập điều khoản chuyển tiếp về thời hiệu (điểm d) vào trong quy định chuyển tiếp về GDDS, có phạm vi điều chỉnh bị giới hạn là “đối với GDDS được xác lập trước ngày bộ luật này có hiệu lực”. Quy định này đương nhiên áp dụng hồi tố về thời hiệu cho GDDS được xác lập trước ngày 1/1/2017, tức là với những GDDS theo quy định BLDS cũ đã hết thời hiệu, nhưng tính đến 1/1/2017 vẫn chưa hết thời hiệu theo quy định mới thì thời hiệu mới được áp dụng theo BLDS 2015, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 688 BLDS 2015. Nhưng thừa kế không phải lúc nào cũng được hiểu là GDDS. Điều khoản chuyển tiếp về GDDS làm cho vấn đề áp dụng hồi tố quy định về thời hiệu thừa kế đã trở thành điểm trống trong văn bản và án lệ số 26 đã có câu trả lời bổ sung.

Thực ra có hai loại thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Đối với thừa kế theo di chúc thì thời hiệu theo quy định trên được áp dụng vì di chúc là một dạng GDDS. Tuy nhiên trong vụ việc của án lệ số 26, với trường hợp thừa kế theo pháp luật, lại không có cơ sở văn bản để khẳng định quy định chuyển tiếp trên được áp dụng cho cả thừa kế theo pháp luật. Tiền lệ Toà áp dụng thời hiệu chuyển tiếp trong xét xử cho cả các vụ việc thừa kế là hướng đi hợp lý, cụ thể “thừa kế nhà ở” theo pháp luật đã được coi là GDDS trong Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH, hay Luật Nhà ở 2014 cũng coi thừa kế theo pháp luật là một dạng giao dịch tại Điều 177. Như vậy, với thừa kế mở trước ngày 1/1/2017, từ khi BLDS 2015 được thông qua, quan điểm của đa số học giả và Toà án đã cho rằng nếu việc yêu cầu diễn ra “sau ngày 1/1/2017 ở cấp sơ thẩm cũng như ở cấp phúc thẩm thì vẫn áp dụng các quy định về thời hiệu trong BLDS 2015 (30 năm đối với bất động sản)”. Trong thực tế không hiếm trường hợp Tòa án đã áp dụng hồi tố như vậy, chẳng hạn như bản án số 03/2017/DS-ST ngày 8/6/2017 của TAND tỉnh Quảng Bình hay bản án số 22/2017/DS-PT ngày 7/4/2017 của TAND tỉnh Phú Thọ, và án lệ số 26 đã đề cập. Án lệ này còn cho thấy, Tòa xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không hề mâu thuẫn với khoản 2 Điều 688 vì Tòa giám đốc thẩm xét xử lại với nội dung khác mà bản án trước đó chưa giải quyết. Hiệu lực hồi tố còn đặt ra với hệ quả của tài sản chưa chia sau khi kết thúc thời hạn – điểm mới của BLDS 2015 đã đề cập ở trên.

Vấn đề tiếp theo là về trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 thì tính thời hiệu bắt đầu từ thời điểm nào? Theo án lệ số 26, nếu lấy thời điểm lấy thời điểm bắt đầu thời hiệu 30 năm đối với bất động sản là kể từ thời điểm mở thừa kế thì thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ T đến năm 2017 đã quá 30 năm vì cụ T mất năm 1972. Tuy nhiên đối với trường hợp mở thừa kế trước khi có Pháp lệnh thừa kế 1990 chúng ta đã có quy định theo hướng thời điểm bắt đầu thời hiệu không phải là thời điểm mở thừa kế mà là thời điểm “từ ngày công bố pháp lệnh này”, tức là ngày 10/9/1990. Mặc dù pháp lệnh này đã hết hiệu lực kể từ ngày 1/7/1996 theo Điều 2 Nghị quyết về thi hành BLDS 1995, nhưng Điều 2 cũng đồng thời quy định: “Trong những trường hợp cụ thể, quy định của các Pháp lệnh nói trên được áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những GDDS được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1996”, do vậy thực tiễn xét xử Tòa đã áp dụng căn cứ tính thời hạn theo Pháp lệnh thừa kế với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 . Do không có nghị quyết hướng dẫn, quy định của BLDS 2015 không cho biết đối với trường hợp trên thì sẽ giải quyết theo hướng nào. Trong suốt quá trình xây dựng quy định này, chưa bao giờ vấn đề về mối quan hệ giữa Pháp luật thừa kế và BLDS 2015 được đặt ra.

Bằng việc công nhận án lệ số 26, Tòa án đã mở rộng phạm vi áp dụng các quy định mới về thời hiệu (áp dụng cho các GDDS mà cho cả thừa kế theo pháp luật) thành một nguồn luật áp dụng, được thể hiện rõ nét ở phần khái quát án lệ:

- Tình huống án lệ:

Người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Tại thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, BLDS số 91/2015/QH13 đang có hiệu lực pháp luật.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, phải xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của BLDS số 91/2015/QH13.

Hướng giải quyết áp dụng hồi tố quy định về thời hiệu chia di sản của tòa trong án lệ số 26 phù hợp với tinh thần sửa đổi các quy định về thời hiệu trong BLDS 2015. Cụ thể sau khi viện dẫn khoản 1 điều 623 và điểm d khoản 1 điều 688 BLDS 2015 đã được trình bày ở trên Tòa án cấp cao đã xét rằng “đây là những quy định mới của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong vụ án tranh chấp thừa kế nói chung nên cần áp dụng để giải quyết triệt để toàn diện vụ án” (bản án số 258/2017/DS-PT ngày 14/9/2017 của TAND cấp cao Hà Nội).

2.3. Về sự chênh lệch thời hiệu bất động sản – động sản

Việc quy định trong hạn 30 năm, người thừa kế (theo di chúc và theo pháp luật) có quyền yêu cầu chia di sản là bất động sản; trong thời hạn 10 năm người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản là động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế, tưởng chừng là phù hợp vì phân loại thời hiệu theo giá trị và sự phức tạp của tài sản tương thích với Điều 236, nhưng thực ra vô tình dẫn đến một thực tế là đối với di sản gồm cả động sản và bất động sản, những người thừa kế có thể phải yêu cầu chia thành hai lần. Bởi có những trường hợp, bất động sản là thứ khó phân chia, người thừa kế chưa muốn chia ngay, nhưng họ vẫn phải tiến hành chia động sản trước vì thời hiệu ngắn hơn, sau đó mới tiến hành chia bất động sản.

2.4. Mâu thuẫn quyền lợi người thừa kế

Việc BLDS 2015 duy trì thời hiệu yêu cầu chia di sản, theo một số học giả vẫn còn là bất cập khi quy định đó vô tình đã áp đặt những người thừa kế buộc phải phân chia di sản trong một thời gian nhất định nên hạn chế quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế của họ được Hiến pháp bảo hộ. Suy cho cùng thì di sản thừa kế cũng chính là tài sản chung của những người thừa kế kể từ thời điểm mở thừa kế. Và do vậy, việc áp đặt thời hiệu chia di sản mâu thuẫn với chính quy định của BLDS 2015 về quản lý, sử dụng, định đoạt và chia tài sản chung (Điều 216-219) khi không quy định buộc các chủ sở hữu tài sản chung phải phân chia trong một thời hạn nhất định. Đồng tình là việc quy định thời hiệu là để tòa án có căn cứ xem xét giải quyết đơn kiện của đương sự, đồng thời buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu tòa án giải quyết. Nhưng trên thực tế, thời hiệu này có thể không bảo vệ được tối đa quyền lợi của người được hưởng thừa kế hợp pháp. Không chia được di sản cũng có nghĩa là người thừa kế mất tư cách thừa kế, đồng nghĩa không có quyền sở hữu đối với phần tài sản được hưởng thừa kế của mình.

Hòa giải ở cấp xã phường là một thủ tục bắt buộc trong các vụ tranh chấp về đất đai, thừa kế. Quy định là vậy, nhưng liệu thủ tục này có thực sự hữu ích? Thực tế công việc này chỉ mang tính hình thức, thậm chí gây thêm phiền toái cho các bên khi các bên thiếu thiện chí hợp tác, cán bộ chỉ làm qua loa (Xem vụ việc thực tiễn tại công ty Luật Vietthink năm 2016, http://vietthink.vn/539/print-article.html). Thêm vào đó, thời gian này còn làm thời hiệu yêu cầu chia di sản trên thực tế bị rút ngắn lại, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người thừa kế.

2.5. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Theo tiểu mục 2.4 mục 2 nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, đối với những vụ việc tranh chấp chấp về quyền thừa kế mà đã quá thời hạn mở thừa kế mà “các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế” và “có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế” hoặc “các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế” và “đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia” thì di sản trở thành “tài sản chung của các thừa kế”. Nếu tranh chấp xảy ra, Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục chia tài sản chung (thủ tục này không bị giới hạn về thời gian) khi thỏa mãn các điều kiện phía trên, nên thực tế cũng khó áp dụng bởi khi đã xảy ra tranh chấp thì các bên rất khó đồng tình thừa nhận chủ quan với nhau, mà chỉ có thể buộc họ tuân thủ pháp luật. 20

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

Như đã phân tích ở trên, một cách hợp lý, yêu cầu chia di sản, cũng như yêu cầu chia tài sản chung, không chịu sự chi phối của thời hiệu. Tuy nhiên, do nhà lập pháp vẫn duy trì thời hiệu này nên việc tìm cách hạn chế hệ quả của việc tồn tại thời hiệu này là việc cần làm. Nói cách khác, chúng ta cần tìm cách kéo dài thời hiệu này để Toà có thể giải quyết yêu cầu chia di sản một cách triệt để và bảo đảm tốt nhất quyền lợi của đương sự như cách làm tại án lệ số 26. Theo hướng giải quyết của tòa trong án lệ số 26, giải pháp pháp lý ở đây là cần kết hợp khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990 và BLDS 2015, có thể sửa đổi quy định thành: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế hoặc từ ngày 10/9/1990 nếu thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990”.

Cần sửa đổi quy định “thời hiệu được áp dụng theo quy định của bộ luật này” tại điểm d Khoản 1 Điều 688 theo hướng trở thành một điều khoản độc lập với GDDS như dự thảo nghị quyết áp dụng để áp dụng cho cả các trường hợp không là GDDS một cách rõ ràng. Hơn nữa, cần bổ sung quy định tại khoản 3, Điều 192 BLTTDS 2015 về trường hợp tại khoản 2 Điều 688 tương tự án lệ 26 khi tòa chỉ giải quyết về hình thức mà chưa giải quyết về nội dung tranh chấp thì vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án có hình thức giám đốc thẩm, tái thẩm. Chẳng hạn vì hết thời hiệu theo BLDS cũ mà đình chỉ vụ án, tiến hành chia theo hướng tài sản chung, nhưng chưa được giải quyết (chưa khởi kiện hoặc khởi kiện nhưng Tòa chưa giải quyết) và thời hiệu chia DS vẫn còn theo BLDS mới.

Khi áp dụng pháp luật về thời hiệu, đương sự cần lưu ý chủ động viện dẫn thời hiệu để làm căn cứ thực hiện, bảo vệ quyền bằng thời hiệu (Điều 170), bởi Tòa án chỉ giải quyết các vụ việc trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Nếu không nắm bắt những quy định về thời hiệu, rất dễ dẫn đến việc mất quyền lợi hợp pháp. Bên cạnh đó, nhằm nâng cao ý hiệu quả thực hiện pháp luật, mỗi người dân chúng ta cũng cần thay đổi suy nghĩ về chia di sản thừa kế, không nên coi đó là vấn đề nhạy cảm, không dám đề cập, bởi nắm bắt và hiểu rõ quy định pháp lý sẽ giúp mỗi người tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân và những người xung quanh.

KẾT LUẬN

Chế định thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế đều được tòa án giải quyết kết và cần tuân theo quy định về thời hiệu. Thực hiện, bảo vệ quyền bằng thời hiệu nói chung và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế nói riêng là một trong những quy định nhằm thực hiện mục tiêu khách quan của pháp luật là bảo đảm trật tự xã hội, công bằng xã hội. Yêu cầu chia di sản là một hành vi pháp lý của chủ sở hữu chung trong khuôn khổ thực hiện các quyền của chủ sở hữu. Tuy nhiên thực tế áp dụng pháp luật còn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục, sửa đổi.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Công an nhân dân, 2018.

  2. BLDS Việt Nam năm 2005, 2015.

  3. Pháp lệnh về thừa kế ngày 30/8/1990, được công bố ngày 10/9/1990 theo Lệnh công bố pháp lệnh thừa kế số 44-LCT/HĐNN8.

  4. Nghị quyết về thi hành BLDS 1995 ngày 28/10/1995 của Quốc hội khóa IX.

  5. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.

  6. Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản.

  7. PGS.TS Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb. Hồng Đức, 2016.

  8. PGS. TS Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học BLDS 2015 của nước CHXHCN Việt Nam, Nxb. CAND, 2017, tr.956-958.

  9. PGS. TS Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học: những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr.532-547, phần 479.

  10. PGS.TS Phạm Văn Tuyết, Hướng dẫn môn học Luật dân sự, Tập 1, Nxb. Tư pháp.

  11. PGS.TS Đỗ Văn Đại, Nguyễn Ngọc Hồng Phượng, Thời hiệu yêu cầu chia di sản trong BLDS 2015, Tạp chí TAND số 04 (kỳ I) tr.22-27 và 05 (kỳ II)/2016, tr.10-13.

  12. PGS.TS Đỗ Văn Đại, Thời hiệu yêu cầu chia di sản đối với thừa kế mở trước khi bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam số 02(123)/2019, tr.65-73.

  13. Tưởng Duy Lượng, Bàn thêm về áp dụng Điều 623, Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015 về thời hiệu thừa kế, Tạp chí TAND số 17/2017, tr. 27-31.

  14. Nguyễn Ngọc Điện, Khắc phục triệt để những bất hợp lý trong các quy đinh của Bộ luật Dân sự năm 2005 về thời hiệu và thời hiệu thừa kế, Tạp chí Lập pháp số 13/2015, tr. 10-14.

  15. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, PGS,TS. Phùng Trung Tập, Những quy định mới về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015, http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208580, truy cập ngày 15/11/2020.

  16. Tạp chí Tòa án, Một số khúc mắc về pháp luật thừa kế, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/mot-so-van-de-khuc-mac-ve-phap-luat-thua-ke , truy cập ngày 15/11/2020.

  17. Tạp chí TAND, Bàn về thời hiệu thừa kế của Bộ luật Dân sự 2015, https://cdn.tapchitoaan.vn/bai-viet/nghien-cuu/ban-ve-thoi-hieu-thua-ke-cua-bo-luat-dan-su-2015, truy cập ngày 16/11/2020.



Bình luận


Post: Blog2 Post

HLUer Docs

87 Nguyễn Chí Thanh, Ba Đình, Hà Nội

Mẫu đăng ký nhận

Cảm ơn bạn đã gửi!

©2021 by Trang Do Quynh. Proudly created with Wix.com

  • Twitter
  • LinkedIn
bottom of page