Thuế tiền điện tử tại Việt Nam
- Trang Đỗ Quỳnh
- 3 thg 10, 2023
- 11 phút đọc
Đã cập nhật: 15 thg 12, 2023
Câu hỏi
1. Mức thuế đánh vào tiền điện tử ở Việt Nam là bao nhiêu?
2. Giao dịch bằng tiền điện tử có bị đánh thuế ở Việt Nam không? Nếu có, phương thức đánh thuế là như thế nào?
3. Việc chuyển đổi từ tiền điện tử sang tiền pháp định (VND) có bị đánh thuế không?
4. Việc giao dịch chuyển đổi giữa các đồng tiền điện tử với nhau có bị đánh thuế không? Hay nói cách khác, lợi nhuận bằng tiền điện tử (chưa quy đổi ra VND) có bị đánh thuế không?
5. Airdrop tiền điện tử bị đánh thuế như thế nào?
6. Chúng tôi có cần cung cấp bằng chứng về tài khoản tiền điện tử để đăng ký tiền điện tử với sàn giao dịch của Việt Nam không?

Mục lục
· Căn cứ pháp lý
· Nhận định sơ bộ
· Tiền điện tử không phải là đối tượng chịu thuế
· Tiền điện tử chưa được công nhận là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam
· Có thể giao dịch crypto dưới dạng nào ở Việt Nam?
· Xu hướng thay đổi của pháp luật Việt Nam
Căn cứ pháp lý
· Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
· Bộ luật Lao động 2015.
· Luật Doanh nghiệp 2020.
· Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, sửa đổi bổ sung 2012, 2014, 2020.
· Luật thuế giá trị gia tăng 2008, sửa đổi bổ sung 2013, 2014, 2016.
· Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 80/2016/NĐ-CP và Nghị định số 16/2019/NĐ-CP.
· Nghị định số 88/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 143/2021/NĐ-CP và Nghị định số 23/2023/NĐ-CP.
· Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 91/2020/NĐ-CP và Nghị định 14/2022/NĐ-CP.
Nhận định sơ bộ
Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa công nhận tính hợp pháp của những giao dịch bằng tiền điện tử, bao gồm cả việc chuyển đổi giữa các đồng tiền điện tử, airdrop tiền điện tử và chuyển đổi từ tiền điện tử sang tiền pháp định (VND). Do vậy, mọi giao dịch liên quan đến tiền điện tử không có căn cứ để đánh thuế tại Việt Nam.
Tiền điện tử không phải là đối tượng chịu thuế
Quy định tại Điều 3 Luật Thuế Giá trị gia tăng như sau:
“Điều 3. Đối tượng chịu thuế
Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.”
Như vậy, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định pháp luật hiện hành là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007:
“Điều 2. Đối tượng nộp thuế
1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
[…]
Điều 3. Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
[…]”
Theo quy định trên, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân có thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Chỉ khi tiền điện tử là một loại hàng hóa thì mới có thể xác định thu nhập từ việc kinh doanh chúng.
Tuy nhiên hiện nay, chưa có một quy định nào xác định tiền điện tử là một loại hàng hóa để có thể xác định nó có phải đối tượng chịu các loại thuế trên không.
Trong vụ kiện hành chính tại Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 về khiếu kiện hủy bỏ quyết định truy thu thuế của Cục Thuế tỉnh Bến Tre đã gián tiếp vô hiệu hiệu hóa công văn hướng dẫn của Bộ Tài Chính liên quan đến vấn đề. Cụ thể, trong công văn trên Bộ Tài Chính đã hướng dẫn Cục Thuế Tỉnh Bến Tre rằng Bitcoin là một loại hàng hóa, việc mua bán Bitcoin phải chịu thuế theo pháp luật Việt Nam. Bản án sơ thẩm có nội dung như sau:
Bối cảnh: Giai đoạn 2008 - 2013, ông C có tham gia trao đổi tiền điện tử qua mạng Internet. Tháng 5/2016, ông nhận được Quyết định số 714/QĐ-CCT ngày 12/5/2016 của Chi cục trưởng Chi cục T về việc nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân từ lợi nhuận thu được từ hoạt động trên. Tháng 6/2017, ông C có đơn khiếu kiện quyết định truy thu thuế của Chi cục trưởng Chi cục T.
Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhận định: Quyết định số 714/QĐ-CCT ngày 12/5/2016 của Chi cục trưởng Chi cục T đã căn cứ vào Công văn số 4356/BTC-TCT ngày 01/4/2016 của Bộ Tài chính nêu: “... hoạt động mua bán tiền kỹ thuật số là hoạt động mua bán hàng hóa và được xếp vào loại hình hoạt động kinh doanh thương mại; tiền kỹ thuật số thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và cá nhân kinh doanh tiền kỹ thuật số thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân…” là vượt quá thẩm quyền ban hành theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Quyết định của Tòa án: hủy Quyết định số 714/QĐ-CCT.Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre “Về việc khiếu kiện quyết định truy thu thuế” giữa người khởi kiện là ông Nguyễn Việt C, người bị kiện là Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố B và Cục trưởng Cục thuế tỉnh B đã được Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao đề xuất thành Dự thảo án lệ số 17 năm 2023 với nội dung chính về việc xác định tiền kỹ thuật số (tiền ảo) không phải là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Trong vụ việc này, Tòa án nhận định rằng Bộ Tài chính chỉ được Chính Phủ ủy quyền nghiên cứu xây dựng khuôn khổ pháp lý về tiền ảo và không có thẩm quyền xác định tiền điện tử là “tài sản” hay một loại “hàng hóa” hay “vốn” phải chịu thuế hay không, trừ khi và cho đến khi Thủ Tướng Chính Phủ hoặc Quốc Hội ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc đó. Do pháp luật Việt Nam chưa có quy định, nên tiền điện tử không được coi là một loại hàng hóa theo quy định của pháp luật thuế.
Kết luận
Như vậy, các căn cứ trên đã nhận định, tiền kỹ thuật số không phải là đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Do vậy, hiện nay, khi phát sinh thu nhập từ việc mua bán tiền điện tử tại Việt Nam thì các cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân hay các khoản thuế nào khác liên quan.
Tiền điện tử chưa được công nhận là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam
Ngoài việc chưa có quy định xác định tiền điện tử là một loại tài sản (hàng hóa) theo quy định của Bộ luật Dân sự, thì tiền điện tử cũng không được công nhận là một phương tiện thanh toán hợp pháp theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Khoản 6, 7 Điều 4 Nghị định 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về việc thanh toán không dùng tiền mặt (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 80/2016/NĐ-CP) quy định:
“Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.
Theo quy định này, các phương thức thanh toán bằng các loại tiền điện tử là phương tiện thanh toán không hợp pháp ở Việt Nam. Theo quy định của Bộ luật Lao động, tiền lương được phép trả cho người lao động cũng không được ở dưới dạng tiền điện tử[1].
Theo khoản 6 Điều 6 Nghị định 101/2012/NĐ-CP, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp là các hành vi bị cấm và có rủi ro bị xử lý hành chính[2] hoặc xử lý hình sự[3] theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Căn cứ quy định nêu trên, tiền điện tử không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc phát hành, cung ứng và sử dụng tiền điện tử (phương tiện thanh toán không hợp pháp) làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm. Ngoài ra, về việc đầu tư vào tiền ảo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cảnh báo nhiều lần việc đầu tư này tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho nhà đầu tư tại Việt Nam (theo Công văn số 5747/NHNN-PC ngày 21 tháng 07 năm 2017 về việc trả lời kiến nghị của ông Vũ Thái Hà về việc thiết kế trung tâm máy tính Bitcoin, Litecoin và các loại tiền ảo).
Do chưa được công nhận là một phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam, nên cho đến thời điểm hiện tại chưa tồn tại một sàn giao dịch tài sản số nào được đăng ký hợp pháp tại Việt Nam bởi các công ty không được phép huy động, thực hiện hay môi giới các giao dịch tài sản số[4].
Chưa được phép quy đổi tiền điện tử ra tiền pháp định tại Việt Nam
Theo quy định tại Điều 104.6 Nghị định 15/2020/NĐ-CP và Điều 7.4 Thông tư 24/2014/TT-BTTTT, việc quy đổi giữa tiền thật và tiền điện tử bị xem là hành vi không được phép theo quy định của pháp luật.
Kết luận
Từ các căn cứ trên, bạn không có cơ sở để thực hiện bất kỳ hoạt động đăng ký tiền điện tử tại sàn giao dịch hay cơ quan nhà nước nào ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quy đổi từ tiền điện tử thành tiền pháp định (VND) tại Việt Nam là hành vi không được phép theo quy định của pháp luật.
Có thể giao dịch crypto dưới dạng nào ở Việt Nam?
Do chưa được công nhận như một loại tài sản hợp pháp ở Việt Nam nên việc chuyển quyền sở hữu đối với crypto làm thế nào để không vi phạm pháp luật tại Việt Nam.
Việc chuyển đổi crypto ra VND có thể được thực hiện dưới dạng hợp đồng dịch vụ, đối tượng hợp đồng là dịch vụ chuyển một lượng crypto nhất định. Tuy nhiên hợp đồng này sẽ không công nhận việc chuyển quyền sở hữu crypto, mà vấn đề này chỉ đặt ra trong hợp đồng mua bán tài sản. Vì vậy vẫn cần quay lại xem xét xác định crypto có phải là tài sản không.
Tuy nhiên, vấn đề bên trên chỉ đặt ra trong trường hợp hai bên trong hợp đồng muốn bán trực tiếp Crypto cho nhau. Mặt khác, nếu một bên bán ở nước ngoài (A), một bên mua ở Việt Nam (B) và một bên khác (C) cung cấp dịch vụ trung gian chuyển Crypto giữa hai bên kia và ngược lại, dường như vẫn có một khe hở cho giao dịch này. Cụ thể khi đó sẽ có 2 hợp đồng song song tồn tại: hợp đồng mua bán giữa A và B, và hợp đồng dịch vụ ba bên giữa A – C - B. Khi đó có thể lựa chọn luật nước ngoài áp dụng cho hợp đồng mua bán giữa A và B có yếu tố nước ngoài, khi đó việc coi crypto là một tài sản để trao đổi hay không sẽ phụ thuộc vào pháp luật nước đó. Theo Điều 7 Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm, nên việc bên cung cấp dịch vụ trung gian chuyển dịch crypto thực hiện ở Việt Nam, theo luật Việt Nam, thì dịch vụ này vẫn có thể được thực hiện.
Xu hướng thay đổi của pháp luật Việt Nam
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt đề xuất toàn diện về việc xây dựng khung pháp lý cho tài sản ảo và tiền ảo tại Quyết định số 1255/QĐ-TTg. Hoàn thiện pháp luật về thuế đối với hoạt động mua bán tài sản ảo qua các nền tảng thương mại điện tử cũng được đề cập là kế hoạch dài hạn theo Quyết địnnh 2146/QĐ-BTC. Năm 2023, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 06/01/2023 của Chính phủ cũng đã tái khẳng định nhiệm vụ “rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về chế quản lý tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo”.
Việc xây dựng khung pháp lý với một loại tài sản mới như tiền điện tử vẫn gặp phải nhiều thách thức và có thể tiền điển tử sẽ trở thành hợp pháp trong tương lai gần. Khi đó cơ chế tính thuế đối với loại tiền này sẽ được cập nhật theo đó.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Lao động 2015, người sử dụng lao động có thể thưởng cho người lao động bằng tiền mặt hoặc “tài sản hoặc bằng các hình thức khác”. Như vậy, trường hợp crypto được công nhận là một loại tài sản hợp pháp ở Việt Nam, nó có thể được sử dụng như một khoản thưởng cho người lao động.
Ref:
[1] Điều 95 Bộ luật Lao động 2015. [2] Điều 26.6(d) Nghị định 88/2019/NĐ-CP và các sửa đổi bổ sung: “Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: […] d) Phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự […]”. [3] Điều 206 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: […] h) Phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả; […] 2. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. 3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm. 4. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.” [4] Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 11/4/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý các hoạt động liên quan đến Bitcoin và các loại tài sản ảo tương tự khác. Được dẫn chiếu bởi Công văn số 42763/BTC-UBCK (ngày 17 tháng 10 năm 2018) về kiến nghị của Công Ty Cổ Phần Đầu Tư HVA.




Bình luận